Hà Nội (TTXVN 12/6) Theo Hướng dẫn số 02-HD/BTCTW ngày 22/5/2026 của Ban Tổ chức Trung ương về một số nội dung về việc đánh giá định kỳ hằng quý đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp trong hệ thống chính trị, đối tượng đánh giá định kỳ hàng quý gồm: Cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp trong hệ thống chính trị theo phân cấp quản lý; Các đối tượng khác do cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng phù hợp với yêu cầu quản lý cán bộ. Đối với cá nhân thành viên cấp ủy của các tổ chức đảng không tham gia công tác chuyên môn và thực hiện nhiệm vụ chính trị trong các cơ quan, đơn vị thuộc hệ thống chính trị thì không bắt buộc thực hiện đánh giá, xếp loại hằng quý; có thể tiến hành đánh giá, xếp loại theo định kỳ 6 tháng hoặc cuối năm phù hợp với điều kiện, tình hình thực tế. Quy trình đánh giá gồm 5 bước: Xác định mục tiêu, nhiệm vụ, kết quả sản phẩm hằng quý; Cá nhân tự chấm điểm, đánh giá và đề xuất mức xếp loại; Nhận xét, đánh giá và đề xuất mức xếp loại của cấp có thẩm quyền; Quyết định mức xếp loại; Thông báo và lưu trữ kết quả. Kết quả xếp loại hằng quý được dùng để xếp loại cuối năm.
Hà Nội (TTXVN 12/6) Theo Hướng dẫn số 02-HD/BTCTW ngày 22/5/2026 của Ban Tổ chức Trung ương về một số nội dung về việc đánh giá định kỳ hằng quý đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp trong hệ thống chính trị, đối tượng đánh giá định kỳ hàng quý gồm: Cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp trong hệ thống chính trị theo phân cấp quản lý; Các đối tượng khác do cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng phù hợp với yêu cầu quản lý cán bộ. Đối với cá nhân thành viên cấp ủy của các tổ chức đảng không tham gia công tác chuyên môn và thực hiện nhiệm vụ chính trị trong các cơ quan, đơn vị thuộc hệ thống chính trị thì không bắt buộc thực hiện đánh giá, xếp loại hằng quý; có thể tiến hành đánh giá, xếp loại theo định kỳ 6 tháng hoặc cuối năm phù hợp với điều kiện, tình hình thực tế. Quy trình đánh giá gồm 5 bước: Xác định mục tiêu, nhiệm vụ, kết quả sản phẩm hằng quý; Cá nhân tự chấm điểm, đánh giá và đề xuất mức xếp loại; Nhận xét, đánh giá và đề xuất mức xếp loại của cấp có thẩm quyền; Quyết định mức xếp loại; Thông báo và lưu trữ kết quả. Kết quả xếp loại hằng quý được dùng để xếp loại cuối năm.
Hà Nội (TTXVN 12/6) Theo Hướng dẫn số 02-HD/BTCTW ngày 22/5/2026 của Ban Tổ chức Trung ương về một số nội dung về việc đánh giá định kỳ hằng quý đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp trong hệ thống chính trị, đối tượng đánh giá định kỳ hàng quý gồm: Cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp trong hệ thống chính trị theo phân cấp quản lý; Các đối tượng khác do cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng phù hợp với yêu cầu quản lý cán bộ. Đối với cá nhân thành viên cấp ủy của các tổ chức đảng không tham gia công tác chuyên môn và thực hiện nhiệm vụ chính trị trong các cơ quan, đơn vị thuộc hệ thống chính trị thì không bắt buộc thực hiện đánh giá, xếp loại hằng quý; có thể tiến hành đánh giá, xếp loại theo định kỳ 6 tháng hoặc cuối năm phù hợp với điều kiện, tình hình thực tế. Quy trình đánh giá gồm 5 bước: Xác định mục tiêu, nhiệm vụ, kết quả sản phẩm hằng quý; Cá nhân tự chấm điểm, đánh giá và đề xuất mức xếp loại; Nhận xét, đánh giá và đề xuất mức xếp loại của cấp có thẩm quyền; Quyết định mức xếp loại; Thông báo và lưu trữ kết quả. Kết quả xếp loại hằng quý được dùng để xếp loại cuối năm.
Hà Nội (TTXVN 12/6) Theo Hướng dẫn số 02-HD/BTCTW ngày 22/5/2026 của Ban Tổ chức Trung ương về một số nội dung về việc đánh giá định kỳ hằng quý đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp trong hệ thống chính trị, đối tượng đánh giá định kỳ hàng quý gồm: Cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp trong hệ thống chính trị theo phân cấp quản lý; Các đối tượng khác do cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng phù hợp với yêu cầu quản lý cán bộ. Đối với cá nhân thành viên cấp ủy của các tổ chức đảng không tham gia công tác chuyên môn và thực hiện nhiệm vụ chính trị trong các cơ quan, đơn vị thuộc hệ thống chính trị thì không bắt buộc thực hiện đánh giá, xếp loại hằng quý; có thể tiến hành đánh giá, xếp loại theo định kỳ 6 tháng hoặc cuối năm phù hợp với điều kiện, tình hình thực tế. Quy trình đánh giá gồm 5 bước: Xác định mục tiêu, nhiệm vụ, kết quả sản phẩm hằng quý; Cá nhân tự chấm điểm, đánh giá và đề xuất mức xếp loại; Nhận xét, đánh giá và đề xuất mức xếp loại của cấp có thẩm quyền; Quyết định mức xếp loại; Thông báo và lưu trữ kết quả. Kết quả xếp loại hằng quý được dùng để xếp loại cuối năm.
Hà Nội (TTXVN 12/6) Theo Hướng dẫn số 02-HD/BTCTW ngày 22/5/2026 của Ban Tổ chức Trung ương về một số nội dung về việc đánh giá định kỳ hằng quý đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp trong hệ thống chính trị, đối tượng đánh giá định kỳ hàng quý gồm: Cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp trong hệ thống chính trị theo phân cấp quản lý; Các đối tượng khác do cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng phù hợp với yêu cầu quản lý cán bộ. Đối với cá nhân thành viên cấp ủy của các tổ chức đảng không tham gia công tác chuyên môn và thực hiện nhiệm vụ chính trị trong các cơ quan, đơn vị thuộc hệ thống chính trị thì không bắt buộc thực hiện đánh giá, xếp loại hằng quý; có thể tiến hành đánh giá, xếp loại theo định kỳ 6 tháng hoặc cuối năm phù hợp với điều kiện, tình hình thực tế. Quy trình đánh giá gồm 5 bước: Xác định mục tiêu, nhiệm vụ, kết quả sản phẩm hằng quý; Cá nhân tự chấm điểm, đánh giá và đề xuất mức xếp loại; Nhận xét, đánh giá và đề xuất mức xếp loại của cấp có thẩm quyền; Quyết định mức xếp loại; Thông báo và lưu trữ kết quả. Kết quả xếp loại hằng quý được dùng để xếp loại cuối năm.
Hà Nội (TTXVN 12/6) Tiếp tục triển khai quyết liệt các nhiệm vụ theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, trong tháng 5/2026, Bộ Khoa học và Công nghệ đã đạt nhiều kết quả tích cực trên các lĩnh vực. Từ hoàn thiện thể chế, phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đến thúc đẩy chuyển đổi số và hợp tác quốc tế, nhiều chỉ số quan trọng tiếp tục ghi nhận sự tăng trưởng, góp phần tạo động lực mới cho phát triển kinh tế - xã hội. Lũy kế đến hết tháng 5/2026, cả nước có 963 doanh nghiệp khoa học và công nghệ, 20 sàn giao dịch khoa học và công nghệ cùng 37 trung tâm đổi mới sáng tạo tại 26 trong số 34 tỉnh, thành phố. Trong lĩnh vực chuyển đổi số, tỷ lệ hồ sơ trực tuyến toàn trình trong tháng đạt 50,2%. Đặc biệt, tỉ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số năm 2025 ước đạt 14,02% GDP, tương đương khoảng 72,1 tỷ USD, tiếp tục khẳng định vị thế ngày càng quan trọng của kinh tế số trong nền kinh tế quốc dân.
Hà Nội (TTXVN 12/6) Phát biểu tại Hội nghị quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW của Bộ Chính trị về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định Nghị quyết 06-NQ/TW tập trung cụ thể hóa những quan điểm của đường lối đối ngoại Đại hội XIV với 5 luận điểm lớn mang tính định hình tư tưởng: thứ nhất, lần đầu tiên đối ngoại được xác định là nhiệm vụ "trọng yếu, thường xuyên" bên cạnh nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; thứ 2, trong giai đoạn mới, đối ngoại không chỉ là công cụ để bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc mà còn là phương thức thể hiện bản lĩnh, bản sắc và tầm vóc Việt Nam trên trường quốc tế, là cách thức để lan tỏa giá trị văn minh Việt Nam, tạo sự tôn trọng, tin cậy và tầm ảnh hưởng trong cộng đồng quốc tế; thứ 3, Đối ngoại phải dựa trên tinh thần "tự chủ chiến lược" và "tự cường; thứ 4, Đối ngoại vươn lên đảm nhận một sứ mệnh mới, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc; lấy hòa bình, độc lập, tự chủ, tự cường là nền tảng; đặt người dân là trung tâm của mọi chính sách; coi đóng góp cho cộng đồng quốc tế là trách nhiệm; thứ 5, Đối ngoại toàn diện là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân… Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ đạo 5 định hướng lớn và 4 vấn đề lớn trong tổ chức Nghị quyết số 06-NQ/TW.
Hà Nội (TTXVN 12/6) Phát biểu tại Hội nghị quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW của Bộ Chính trị về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định Nghị quyết 06-NQ/TW tập trung cụ thể hóa những quan điểm của đường lối đối ngoại Đại hội XIV với 5 luận điểm lớn mang tính định hình tư tưởng: thứ nhất, lần đầu tiên đối ngoại được xác định là nhiệm vụ "trọng yếu, thường xuyên" bên cạnh nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; thứ 2, trong giai đoạn mới, đối ngoại không chỉ là công cụ để bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc mà còn là phương thức thể hiện bản lĩnh, bản sắc và tầm vóc Việt Nam trên trường quốc tế, là cách thức để lan tỏa giá trị văn minh Việt Nam, tạo sự tôn trọng, tin cậy và tầm ảnh hưởng trong cộng đồng quốc tế; thứ 3, Đối ngoại phải dựa trên tinh thần "tự chủ chiến lược" và "tự cường; thứ 4, Đối ngoại vươn lên đảm nhận một sứ mệnh mới, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc; lấy hòa bình, độc lập, tự chủ, tự cường là nền tảng; đặt người dân là trung tâm của mọi chính sách; coi đóng góp cho cộng đồng quốc tế là trách nhiệm; thứ 5, Đối ngoại toàn diện là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân… Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ đạo 5 định hướng lớn và 4 vấn đề lớn trong tổ chức Nghị quyết số 06-NQ/TW.
Hà Nội (TTXVN 12/6) Phát biểu tại Hội nghị quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW của Bộ Chính trị về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định Nghị quyết 06-NQ/TW tập trung cụ thể hóa những quan điểm của đường lối đối ngoại Đại hội XIV với 5 luận điểm lớn mang tính định hình tư tưởng: thứ nhất, lần đầu tiên đối ngoại được xác định là nhiệm vụ "trọng yếu, thường xuyên" bên cạnh nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; thứ 2, trong giai đoạn mới, đối ngoại không chỉ là công cụ để bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc mà còn là phương thức thể hiện bản lĩnh, bản sắc và tầm vóc Việt Nam trên trường quốc tế, là cách thức để lan tỏa giá trị văn minh Việt Nam, tạo sự tôn trọng, tin cậy và tầm ảnh hưởng trong cộng đồng quốc tế; thứ 3, Đối ngoại phải dựa trên tinh thần "tự chủ chiến lược" và "tự cường; thứ 4, Đối ngoại vươn lên đảm nhận một sứ mệnh mới, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc; lấy hòa bình, độc lập, tự chủ, tự cường là nền tảng; đặt người dân là trung tâm của mọi chính sách; coi đóng góp cho cộng đồng quốc tế là trách nhiệm; thứ 5, Đối ngoại toàn diện là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân… Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ đạo 5 định hướng lớn và 4 vấn đề lớn trong tổ chức Nghị quyết số 06-NQ/TW.
Hà Nội (TTXVN 10/6) Thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư đã ký ban hành Kết luận số 43-KL/TW về việc tiếp tục thực hiện Kết luận số 34-KL/TW về Chiến lược công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đến năm 2030. Kết luận số 43-KL/TW nêu: Xem xét Tờ trình số 25-TTr/UBKTTW, ngày 29/4/2026 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương về việc sơ kết thực hiện Kết luận số 34-KL/TW, ngày 18/4/2022 của Bộ Chính trị về Chiến lược công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đến năm 2030 (Kết luận số 34-KL/TW), Bộ Chính trị kết luận như sau: 1. Cơ bản thống nhất với Tờ trình của Ủy ban Kiểm tra Trung ương. Yêu cầu cấp ủy, tổ chức đảng các cấp tiếp tục thực hiện Kết luận số 34-KL/TW, bảo đảm thống nhất, đồng bộ với nội dung Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 7/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng và các nghị quyết, chỉ thị, kết luận khác của Đảng về xây dựng Đảng, công tác tổ chức cán bộ, công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; tập trung thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể. 2. Giao Ủy ban Kiểm tra Trung ương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tiếp tục tổ chức triển khai thực hiện Kết luận số 34-KL/TW của Bộ Chính trị cùng với Nghị quyết số 05-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng; theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, giám sát các cấp ủy, tổ chức đảng thực hiện và định kỳ báo cáo kết quả thực hiện với Bộ Chính trị, Ban Bí thư.