Thứ ba, ngày 07/04/2026

Sổ tay phóng viên

"Để có tin hay phải làm dân vận giỏi"


(27/03/2006 15:40:01)

 Bài học về viết tin chụp ảnh từ trong khói lửa chiến tranh, chiến trường, không bao giờ phai nhòa trong mỗi chúng tôi. Bài học đầu tiên của thực tế làm báo ở chiến trường mà chúng tôi học được là phải có mối quan hệ tốt với cơ sở, với nhân dân, bám sát phong trào, làm tốt công tác dân vận để có tin hay ảnh đẹp.

 Đầu năm 1973, một số đông phóng viên của TTXVN được tăng cường cho Thông tấn xã Giải phóng (TTXGP) căn cứ đóng tại rừng Lò Gò - Xa Mát - xã Tân Lập, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh để rồi từ đây bổ sung phóng viên cho các tỉnh Nam Bộ (B2), trong đó có miền Đông Nam bộ. Sau một thời gian ngắn ở Tổng xã (R), làm quen với tin ảnh chiến sự, đầu năm 1974, Tổng Biên tập TTXGP phân công cho ba chúng tôi là: Nguyễn Sỹ Thuỷ, (phóng viên tin), Phạm Cao Phong và Nguyễn Tất Thắng (phóng viên ảnh) tăng cường cho Phân xã miền Đông Nam bộ (ĐNB) đóng tại Chiến khu Đ rừng Mã Đà - Đồng Nai.
     Lúc này chúng tôi đang ở tuổi 24-25. Là phóng viên tin nên tôi được giao làm trưởng nhóm, thay mặt đoàn trong quan hệ công tác khi đi cơ sở. Lúc bấy giờ anh Bảy Yến (tức Trịnh Yến) làm Trưởng phân xã miền ĐNB. Trưởng phân xã cũng tham gia các việc như anh em, ngoài đi làm tin, anh cũng tham gia làm rẫy, trồng rau, săn bắt cá để có lương thực, thực phẩm. Thời gian làm nghiệp vụ không nhiều.
      Sau một ngày nghỉ ngơi, anh Bảy Yến dẫn chúng tôi lên Khu ủy, giới thiệu với ông Tư Thành (Lê Quang Thành), Trưởng Ban tuyên huấn Khu ủy Đông Nam Bộ. Ông Tư Thành ân cần hỏi thăm chúng tôi về tình hình sức khoẻ, về những ngày vất vả băng rừng, vượt lộ từ căn cứ ở rừng Tây Ninh về với miền Đông gian lao: hỏi thăm quê hương, gia đình, đã có vợ, có người yêu hay chưa...
 Vào phần công việc, ông Tư Thành căn dặn: Công tác ở chiến trường ĐNB phức tập và gian khổ lắm. Địa hình dân cư ở đây đa dạng. Có nhiều xã ở cách đây rất xa, đi bộ theo đường mòn trong rừng phải hàng chục ngày mới tới... Có nơi như: Hố Nai, Gia Tân, Gia Kiệm... hầu hết là dân Bắc toàn tòng, theo Chúa vào Nam, khét tiếng 'chống Cộng'... Có những xã người Hoa chiếm số động như Bàu Hàm - Định Quán... Vùng giải phóng hình thành kiểu da báo (vùng của ta, vùng của định đan xen nhau). 'Vì vậy, các đồng chí vừa làm công tác phóng viên vừa phải làm công tác dân vận cho giỏi, làm cả công tác địch vận, thậm chí đánh địch... Để có tin hay, phải làm dân vận giỏi, có vậy tin mới hay, mới trúng', ông nói nôm na như vậy.
 Sau này, xuống cơ sở công tác, chúng tôi thấy lời căn dặn của ông là đúng. Tôi còn nhớ, khi thấy chúng tôi thiếu quần áo mặc, da xanh mắt vàng, ông đã trao đổi với phòng quân nhu và y tế cấp cho chúng tôi mỗi đứa 4 mét vải tốt để may một bộ quân áo và cho đủ thuốc phòng chữa bệnh. Ông còn tạo điều kiện cho các phóng viên trẻ chúng tôi đi dự (làm tin, ảnh) Đại hội Anh hùng chiến sỹ thi đua miền Đông Nam Bộ tổ chức tại một địa điểm bên sông Đồng Nai- rừng Mã Đà, là kỷ niệm không bao giờ chúng tôi quên.
 Vùng chiến khu miềm Đông Nam Bộ chạy dài từ Định Quán (giáp Đức Trọng - tỉnh Lâm Đồng) cho đến Long Thành - Xuân Lộc và giáp với Bà Rịa - Vũng Tàu hiện nay. Đây là chiến trường gian khổ và ác liệt nhất trong hai cuộc kháng chiến. Là một vùng trọng điểm có cơ quan Trung ương Cục, Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam nên thường xuyên có 3 Sư đoàn bộ binh Mỹ, hai sư đoàn chủ lực ngụy cũng lữ đoàn dù 173, sư đoàn thiết giáp số 11 của Mỹ thường xuyên càn quét, bắn phá ngày đêm... Căn cứ của các huyện, xã đều đóng ở trong các khu rừng già, đất đỏ.
     Công tác dân vận, phát động quần chúng, tạo cốt cán, bồi dưỡng hạt nhân ở vùng ven, vùng công giáo lúc bấy giờ được xác định là quan trọng nhất. Hàng ngày, cán bộ, bộ đội phải ra nương rẫy tìm gặp nhân dân để bồi dưỡng hạt nhân, hướng họ đi theo cách mạng. Chúng tôi cũng tham gia công tác dân vận như cán bộ xã, huyện, tỉnh và khu.
     Trong đoàn, Phạm Cao Phong, tuy mới vào nghề nhưng say mê chụp ảnh, đồng thời biết chọn góc độ và chủ đề để chụp nên đã có ảnh đẹp. Phong đẹp trai hơn cả và sớm có 'chất' nghệ sỹ, giỏi nói, biết nghề cắt may nên các em mê như 'điếu đổ'. Còn Nguyễn Tất Thắng là người 'đa tài', nhất là trong quan hệ 'đối ngoại' nên sớm được nhiều người giúp đỡ. Sau mỗi lần đi chụp, Thắng tranh thủ 'dựng' buồng tối làm ảnh để có sản phẩm hôm sau đem đi tặng (dù chỉ là ảnh đen trắng rất nhỏ, nhưng ai cũng thích, vì ở chiến trường).
     Chuyện thứ hai mà tôi còn nhớ, đó là khoảng tháng 4/1974, được anh Bảy Yến phân công xuống huyện Thống Nhất để làm tin ảnh về nhân dân vùng địch bung ra vùng giải phóng sản xuất; xây dựng vùng ven; mở rộng vùng giải phóng ở các xã có nhiều đồng bào theo Thiên Chúa giáo và người Hoa sinh sống. Được đi cơ sở chúng tôi mừng lắm. Nhưng lo là do thường xuyên bị sốt rét nên sức của chúng tôi lúc này hơi yếu. Phải băng rừng, lội suối, ăn đói, mặc bẩn mấy ngày mới xuống đến huyện Thống Nhất nên rất mệt Khi vượt qua lộ (đoạn ở Bàu Hàm đường đi Đức Trọng - Lâm Đồng bấy giờ) thì gặp địch. Chúng bắn như mưa, nhưng nhờ có anh em bộ đội và giao liên bắn cản lại, còn chúng tôi chạy thoát vào rừng, bảo toàn được lực lượng.
     Đến khu căn cứ của Huyện ủy Thống Nhất, các đồng chí lãnh đạo huyện đón tiếp nhiệt tình, thu xếp chỗ ăn ở, cấp phát đủ thuốc sốt rét, phòng bệnh. Tuy lúc bấy giờ chúng tôi chưa phải là đảng viên nhưng được mời dự các cuộc họp của Ban thường vụ Huyện uỷ để nắm tình hình. Bí thư Huyện uỷ là chú Tám Hải (Nguyễn Văn Hải, quê ở Hải Dương - trông hơi già hơn tuổi nên gọi là chú cho thân mật). Phó Bí thư là chị Hai Liên (Nguyễn Thị Ngọc Liên - người địa phương Nam bộ). Nắm được tình hình chung, rồi chúng tôi xuống xã Gia Tân, Trảng Bom, vào ấp, gặp nhân dân vùng ven, vùng địch ra nương rẫy làm ăn để thu thập thông tin. Phạm Cao Phong, Nguyễn Tất Thắng chụp được khá nhiều ảnh về việc nhân dân vùng địch bung ra vùng ven sản xuất; về đời sống, con người ở vùng ven; các tấm gương sản xuất, cung cấp lương thực, thực phẩm cho cách mạng. Còn tôi thu nhập tài liệu để viết, không chỉ viết tin về công tác vận động, chỉ đạo xây dựng lực lượng, mở rộng vùng giải phóng mà còn viết bài, không chỉ một bài, mà nhiều bài về những điển hình, các phong trào ở vùng này, nhất là phong trào bung ra vùng mới giải phóng lao động sản xuất. Đến bây giờ, tôi vẫn còn nhớ bài viết được chuyển về Tổng xã kịp thời, được biên tập lại khá hay như: 'Đổi mới ở Gia Kiệm', 'Gặp gỡ nhân dân ở vùng ven Hố Nai - Thống Nhất'; 'Du kích vùng ven'... Đêm xa nhà, ở chiến khu chưa biết ngày nào hoà bình, thường xuyên mở Đài Giải phóng nghe tin tức cho đỡ nhớ nhà. Có  những lần nghe được những bài viết về đất và người nơi mình đang công tác sao thấy 'sướng' vậy. Cao Phong và Tất Thắng cũng chụp được nhiều ảnh, về đến cứ là làm ảnh ngay, loại nào thuộc 'lưu niệm' thì tặng cho anh chị em cán bộ, bộ đội, du kích để họ mừng, có tấm hình kỷ niệm trong chiến tranh và cùng là để 'dân vận' nên chúng tôi được mọi người quý mến và che chở. Chú Tám Hải và chị Hai Liên thường xuyên gọi chúng tôi đi theo xuống cơ sở, cung cấp cho những thông tin mà các đồng chí ấy nắm được để chúng tôi viết tin bài và đi chụp ảnh. Có lần, vào ban đêm, chúng tôi đã đi cùng bộ đội địa phương và du kích xã Bàu Hàm đánh bọn lính ngụy ra phá tài sản của dân ở rẫy, truy kích đẩy chúng vào sâu trong ấp. Đây cũng là lần đầu tiên chúng tôi tham gia đánh địch, vào sâu trong ấp của nhân dân trong vùng địch. Hàng hoá rất nhiều, mua thì trả tiền, nhưng không ai được nhận bất cứ thứ gì dân cho, hoặc tự lấy. Cán bộ, du kích ở đây có kỷ luật nghiêm, luôn là việc tốt vì dân nên được dân trong ấp tin.
     Chuyện thứ ba, tôi cũng còn nhớ, đó là những ngày công tác ở xã Hố Nai - vùng công giáo toàn tòng, khét tiếng 'chống Cộng'. Bí thư xã vùng ven này là anh Hai Vòng, quê ở miền Bắc. Hàng ngày, chúng tôi cùng cán bộ xã ra rẫy gặp bà con làm công tác dân vận, phát động quần chúng, bồi dưỡng cốt cán, phát triển cơ sở trong vùng địch. Trong số cán bộ, bộ đội ở Hố Nai, chúng tôi rất thích phong cách và tinh thần làm việc của Hoàng Ngọc Phi (quê ở xã Hoà Bình, Kiến Xương, Thái Bình). Phi cũng chỉ ngang tuổi chúng tôi, nhưng đi bộ đội sớm nên chững chạc, được dân tin, thường ngày dẫn chúng tôi ra rẫy giúp đồng bào vùng địch bung ra sản xuất, dần thành thân thiết. Anh đã ở đây lâu nên tường tận mọi việc, biết cụ thể từng đối tượng trong ấp, ai tốt, ai xấu. Chúng tôi dần quen với dân vùng địch bung ra vùng giáp ranh làm rẫy, hàng ngày tham gia kéo vó, hái ngô, trồng cây với họ, dần già hiểu nhau, cũng xây dựng được một số người thành cơ sở tốt của ta. Kỷ luật dân vận rất nghiêm, không được tự ý lấy bất cứ thứ gì, dù là cây trái đầy rẫy. Trái lại, nhân dân vùng này cũng hiểu từng người của cách mạng nên tạo mọi thuận lợi, che chở chúng tôi mỗi khi gặp khó khăn. Có lần, chúng tôi cùng cán bộ xã ra làm việc trong nhà rẫy của một gia đình nông dân công giáo (hạt nhân của cách mạng), có tốp lính đi ở bên ngoài (cơ sở tốt báo tin), anh em trong đoàn nhìn nhau im lặng, hơi sợ, nhưng sau đó trấn tĩnh ngay, vẫn làm việc bình thường, vì đã nắm được dân, có dân che chở.
     Chúng tôi hoàn thành công tác phóng viên cũng bắt đầu từ bài học phải biết làm tốt công tác dân vận, dựa vào nhân dân như lời căn dăn của ông Tư Thành khi mới về căn cứ miền Đông Nam bộ, Phải bám thực tế cuộc sống, phong trào của nhân dân để viết tin, chụp ảnh. Những người nhắc trong bài viết này như ông Tư Thành, sau giải phóng được bầu là Bí thư Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo. Năm 1980, nhân chuyến tôi được cử xuống Vũng Tàu đi Côn Đảo viết bài về xây dựng đảng, gặp lại tôi ông mừng lắm. Còn chị Hai Liên, sau giải phóng tiếp tục làm Bí thư huyện uỷ Thống Nhất, rồi Bí thư Tỉnh uỷ Đồng Nai, được bầu là Ủy viên Trung ương Đảng. Nhiều lần khi còn công tác thường trú ở TPHCM, chúng tôi đã gặp chị, gợi lại nhiều kỷ niệm vui. Anh Bảy Yến sau giải phóng về tỉnh Đồng Nai tiếp tục làm Trưởng phân xã, sau đó chuyển sang UBND tỉnh Đồng Nai làm Chánh văn phòng cho đến ngày nghỉ hưu. Những ngày sống và làm việc bên anh, chúng tôi học được ở anh rất nhiều, nhất là tính cẩn thận khi viết, duyệt tin: ngăn nắp, nghiêm khắc nhưng rất chu đáo; biết nấu ăn ngon. Tôi còn nhớ, có lần Ban tài chính khu bắn được con voi 'khổng lồ' ở rừng Mã Đà, anh liên hệ với mấy người thuộc đường dẫn chúng tôi mang bồng đi xẻo thị voi. Anh chế biến thịt voi thành nhiều món, và vì lấy được nhiều nên còn phơi khô, muối mặn ăn dần. Hôm 17/4/2005, TTXVN đón nhận danh hiệu Anh hùng LLVTND, anh Bảy Yến được mời ra Hà Nội dự. Đã ở tuổi 80, nhưng anh vẫn còn khoẻ và nhanh nhẹn như ngày nào. 30 năm trôi qua, gặp lại anh trong ngày trọng đại này, nhắc lại vụ thịt voi, anh cười vui...
     Đã 30 năm có lẻ làm phóng viên. Chiến tranh gian khổ cũng đã lùi xa. Có biết bao nhiêu kỷ niệm, kinh nghiệm, vui buồn... Nhưng bài học về viết tin, chụp ảnh từ trong khói lửa chiến tranh, chiến trường, không bao giờ phai nhoà trong mỗi chúng tôi. Bài học đầu tiên của thực tế làm báo ở chiến trường mà chúng tôi học được là phải có mối quan hệ tốt với cơ sở, với nhân dân, bám sát phong trào, làm tốt công tác dân vận để có tin hay, ảnh đẹp./.